TOPO VÀ DỊCH CHUYỂN PHA TOPO

       Topo là môn học nghiên cứu hình dạng của một không gian về các mặt cơ bản nhất, đó là tính liên thông (connectedness), tính liên tục (continuity) và các biên (boundary). Những tính chất này bất đối với các phép biến đổi liên tục gồm các biến đổi như kéo dài, uốn cong mà không bao gồm các phép biến đổi như xé rách (tearing) hoặc dán dính (gluing).


Topo toán học nghiên cứu các tính chất biến đổi nhảy vọt từng bước, giống như số lỗ trong một đa tạp. Topo là nội dung cơ bản trong các phát hiện của các nhà Vật lí đoạt giải Nobel 2016, họ đã giải thích được vì sao điện trở trong các lớp mỏng biến đổi từng lớp nguyên. 


Thế nào là pha topo (topological phase)?

Pha vật lý được xác định bởi trật tự của pha đó. Trật tự topo khác với trật tự thông thường như thế nào?


Trước năm 1980, người ta dùng lý thuyết Landau: khi đối xứng thay đổi thì chúng ta có chuyển pha, như vậy trật tự thông thường ứng với đối xứng. Ở nhiệt độ cao entropy chế ngự và dẫn đến một trạng thái mất trật tự. Ở nhiệt độ thấp, năng lượng áp đảo entropy dẫn đến một trạng thái có trật tự. 

Năm 1980, người ta tìm thấy một trật tự mới ngoài trật tự gắn liền với phá vỡ đối xứng đó là trật tự topo (topological order). Như chúng ta biết trong hiệu ứng Hall lượng tử nguyên (IQHE - Integer quantum Hall effect), trở Hall \(R_H\) lấy những trị số nguyên. Ta sẽ thấy trật tự topo có thể giải thích được sử lượng tử hoá đó trong IQHE.

Trong một pha với trật tự topo, tồn tại hàm xác định bởi một đại lượng bất biến topo (topological invariant). Bất biến topo là đại lượng không thay đổi vì nhưngx biến đổi liên tục (continuous deformation).


Đại lượng bất biến topo đó là những đại lượng nào?

Các bất biến topo trong vật lí là những tích phân một đại lượng hình học nào đó trên một mặt (vùng Brillouin-Brillouin zone)


Ví dụ xét mặt kín

                   

Hình 4: ví dụ mặt kín


Tích phân mặt (area integral) của độ cong trên toàn mặt bị lượng tử hoá là một bất biến topo (Gauss-Bonnet theorem):

$$\int_M kdA=2\pi \chi=2\pi (2-2g)$$

trong đó \(g\) là số lỗ và \(g=0\) (mặt cầu), \(g=1\) (hình xuyến), \(g=n\) đối với hình xuyến \(n\) lỗ.

Chuyển pha topo tương tự việc chuyển topo từ một lỗ thủng \(n=1\) sang topo hai lỗ thủng \(n=2\) (chú ý số lượng thủng là số nguyên). Cũng giống như hiệu ứng Hall nguyên, điện trở nhảy từng bước một, giá trị điện trở nhảy từ 1 sang 2,...

Trong trật tự topo người ta chú ý đến hiện tượng liên đới tầm xa (long range entanglement). Như vậy, một điều đáng chú ý là topo nghiên cứu các tính chất của toàn bộ một hệ. Tương tự trong vũ trụ học, việc nghiên cứu địa phương (local) bằng các phương trình Einstein không quyết định được vũ trụ hữu hạn hay vô hạn. Muốn nghiên cứu đầy đủ vũ trụ cần nghiên cứu topo của vũ trụ.


Cơ sở lí thuyết


Trong lí thuyết chuyển pha topo có một khái niệm quan trọng là các cuộn xoáy như các cuộn xoáy Abrikosov 


Hình . Bên trái: cấu hình cuộn xoáy đơn, bên phải: cấu hình cuộn xoáy và phản cuộn xoáy. Góc \(\theta\) mô tả bởi hướng của các mũi tên.

Trong các hệ hai chiều nói trên spin nằm trong một mặt phẳng \(XY\). Trong các magnet, hướng từ được mô tả bởi góc \(\theta\) (góc quay xung quanh trục \(Z\).) Trong siêu dẫn và siêu chảy thì thông số trật tự (phức) được mô tả bởi hàm:

$$\Psi=\sqrt{\rho_S}e^{i\theta}$$

trong đó \(\rho_S\) là mật độ còn \(\theta\) là pha. Chú ý vì magnet phẳng và siêu chảy siêu dẫn được mô tả cùng bởi góc \(\theta\) cho nên người ta gọi chúng là cùng lớp phổ quát (universality class). Hamilton của các hệ này là:

$$H_{XY}=-J\sum_{\braket{ij}}\cos{(\theta_i-\theta_j)}$$

trong đó \(\braket{ij}\) chỉ các điểm lân cận.


Chuyển pha Kosterlitz-Thouless trên mặt \(XY\)

Hàm Hamilton:

$$H_{XY}=\dfrac{J}{2}\int d^2 r\left(\nabla \theta (\vec{r}) \right)$$

Một cuộn xoáy như hình 5 sẽ ứng với một đại lượng cuộn xoáy (vorticity)

$$\nu=\dfrac{1}{2\pi}\int_C d\vec{r}\cdot \nabla \theta (\vec{r})$$

trong đó đường cong tích phân \(C\) sẽ bao bọc lấy cuộn xoáy. Tích phân mô tả độ quay toàn phần của vector spin dọc theo đường cong.


Năng lượng tự do của một cuộn xoáy là:

$$F=E-TS=J\pi \ln\left( \dfrac{L}{a}\right)-Tk_B\ln\left(\dfrac{L^2}{a^2} \right)$$

trong đó \(L\) là kích thước của hệ, \(k_B\) là hằng số Boltzmann.

Hình: Chuyển pha topo, không phá vỡ một đối xứng nào cả


Vì thế cho nên ở nhiệt độ tới hạn \(T_{KT}=J\pi/2k_B\) năng lượng cân bằng với entropy, các cặp cuộn xoáy sẽ tách ra và ta sẽ có pha các cuộn xoáy tự do. X+Các chuyển pha KT không phá vỡ một đối xứng nào cả.



Trở Hall lượng tử và lí thuyết topo


Một minh hoạ sử dụng topo là xét đến hiệu ứng Hall lượng tử nguyên: 

$$\sigma_H=n\dfrac{e^2}{h}$$

trong đó \(n\) là số nguyên. Thouless và đồng nghiệp đã suy ra công thức cho trở Hall làm bộc lộ tính topo của vấn đề.


Xung lượng \(k\) trong tinh thế lấy những trị số trong vùng Brillouin thứ nhất và hàm số ở mức Landau thứ \(n\) có dạng \(u_{\vec{k},n}\left( \vec{r}\right)\). Công thức được đưa ra như sau:

$$\sigma_H=\dfrac{e^2}{2\pi h}\sum_n \int_{\vec{k}\in BZ}d^2kB(\vec{k},n)$$

trong đó tích phân lấy theo xung lượng vùng BZ = Brillouin zone, \(B\) là cường độ trường Berry (Berry field strength) và:

$$\dfrac{1}{2\pi}\int_{BZ}B(\vec{k},n)=C_1(n)$$

trong đó \(C_1\) là số Chern (số nguyên). Điều này chứng tỏ rằng trở Hall bị lượng tử hoá và trở này vô cảm đối với mọi loại nhiễu loạn trật tự hay tương tác giữa các hạt. Số Chern là một đại lượng bất biến topo và là những số nguyên. Sử dụng các hàm sóng tường minh trong bài toán Landau người ta có thể tính được tích phân và tìm ra \(C_1=1\) đối với mọi mức Landau đầy.


SKYRMION TỪ

Trong vật lý skyrmion từ là những vòng xoáy (vortex) mô tả những á hạt (quasiparticle) được tiên đoán bằng lý thuyết và sau đó được quan sát bằng thực nghiệm trong những hệ môi trường đông đặc.



Hình 4 .Trên đường của một bộ nhớ từ sự vắng mặt hay có mặt của một skyrmion (màu đỏ) có thể mã hóa một bit.


Nhà vật lý Albert Fert (CNRS,Palaiseau,Nobel 2007) phát hiện từ trở khổng lồ (magnétorésistance géante) đã nói skyrmion làm liên tưởng đến topo của hình  Mobius. Skyrmion là một cấu hình spin (moment magnetique) của một hệ nguyên tử có topo như Mobius, cấu hình không thay đổi được nếu áp dụng quá ít  năng lượng .Các spin hướng xuống dưới ở tâm và các spin hướng lên trên ở biên hoặc ngược lại.Hướng của các moment từ thay đổi liên tục từ tâm ra ngoài làm thành một vòng xoáy (vortex) --> do tương tác spin-quỹ đạo.




      Hình 5.Bên trái là hình Mobius, bên phải là trường vector của skyrmion từ 2-chiều  


Trên hình vẽ ta thấy spin chuyển từ hướng xuống phía dưới tại tâm thành hướng lên phía trên ở ngoài biên.


Kết luận

Topo như chúng ta đã thấy quả đã cung cấp một cách nhìn mới đối với các hạt trong vật lý môi trường đông đặc :siêu dẫn , siêu chảy,hiệu ứng lượng tử Hall, xích spin, cách điện topo (insulant topological), skyrmion từ,…


Topo còn giúp các nhà vật lý nghiên cứu và chế tạo nhiều vật liệu mới.


Các kết quả sử dụng topo vào vật lý môi trường đông đặc của J.Michael Kosterlitz, David J,Thouless và Duncan Haldane xứng đáng với giải Nobel Vật lý 2016 và là một phát hiện mới của vật lý trong thế kỷ 20.



Tài liệu tham khảo

  1. Nobel Prize. (2016). Topological Phase Transitions and Topological Phases of Matter. PDF
  2. von Klitzing, K. (1986). The Quantized Hall Effect. Reviews of Modern Physics, 58(3), 519–531. Link
  3. Nakahara, M. (2003). Geometry, Topology and Physics (2nd ed.). Taylor & Francis.
  4. Kosterlitz, J. M., & Thouless, D. J. (1973). Ordering, metastability and phase transitions in two-dimensional systems. Journal of Physics C, 6(7), 1181. Link
  5. Chaikin, P. M., & Lubensky, T. C. (1995). Principles of Condensed Matter Physics. Cambridge University Press.
  6. Ren, Y., Qiao, Z., & Niu, Q. (2015). Topological Phases in Two-Dimensional Materials: A Brief Review. arXiv:1509.09016. Link

HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ VÀ MÔ HÌNH HẠT NHÂN

 Sự hình thành hạt nhân

Một mẫu hình của đồng vị helium-4 với đám mây eletron được hiển thị với màu xám. Trong hạt nhân nguyên tử, có 2 proton và 2 neutron được hiển thị lần lượt là màu đỏ và màu xanh. Trong mẫu hình này, cho thấy các hạt có khoảng cách nhất định trong giả định.


Hạt nhân nguyên tử (nucleus) của một nguyên tử được tích hợp từ neutron và proton. Mà ở đó, các neutron và proton được chuyển hóa từ các hạt siêu bé gọi là quark. Các hạt quark được kết nối loại với nhau bằng lực tương tác mạnh trong một tổng liên kết của Hadron, gọi là các Baryon. Lực hạt nhân mạnh lan tỏa trong không gian giữa các baryon để kết nối các neutron và các proton lại với nhau, tạo ra lực đối kháng giữa lực tĩnh điện âm với các proton mang điện tích dương. Lực hạt nhân mạnh thường có khoảng cách hoạt động ngắn và có chỉ số sẽ về 0 khi ở ngoài rìa của hạt nhân nguyên tử.


Tính chất thu thập (khả năng lưu trữ) của các hạt nhân nguyên tử điện tích dương là giữ các hạt electron điện tích âm trong các quỹ đạo của hạt nhân. Tổng các hạt electron mang điện tích âm được lưu trữ đang xoay quanh hạt nhân nguyên tử sẽ tạo thành ái lực. Ái lực có mẫu hình nhất định và theo số lượng eletron xoáy xung quanh hạt nhân nguyên tử.


Nguyên tố hóa học của một nguyên tử được hình thành từ việc xác định tổng số proton của hạt nhân nguyên tử; Nguyên tử trung tính (neutral atom) sẽ có số electron cân bằng xoay quanh hạt nhân nguyên tử. Các nguyên tố hóa học riêng biệt có thể tạo thành các mẫu hình electron bền hơn bằng cách cộng hưởng và chuyển giao các electron. Sự chuyển giao của các electron để tạo nên các quỹ đạo điện từ có tính bền xung quanh hạt nhân sẽ được hình thành lớn dần và chính là hình dạng các chất hóa học trong thế giới vĩ mô của chúng ta. Các Proton khẳng định điện tích của một hạt nhân nguyên tử, bao gồm cả tính chất hóa học của nó. Neutron là hạt không mang điện tích, nhưng đóng vai trò mang đến tổng thể khối cho hạt nhân nguyên tử gần bằng với các electron (và thay đổi theo sự tăng lên của chúng). Các neutron có thể được giải thích là sự dị biến của đồng vị (cùng chỉ số hạt nhân nhưng khác khối lượng của hạt nhân). Vai trò chính của các neutron là làm giảm lực đối kháng tĩnh điện (electrostatic repulsion)  bên trong một nguyên tử hạt nhân.


Các lực


Nguyên tử được gắn kết bằng những dư lực mạnh (lực hạt nhân), Những dư lực mạnh này chân không nhỏ của lực tương tác mạnh giúp làm cho các hạt quark liên kết với nhau tạo thành các proton và các neutron. Lực này có tính yếu hơn khi ở giữa các neutron và các proton bởi vì chúng gần như vô hiệu hóa khi trong vùng liên kết hạt nhân; Điều này có cùng tính chất tương tác giữa lực điện từ và các nguyên tử trung tính (giống như lực Van der Waals của hai nguyên tử khí trơ) sẽ có tính yếu hơn các lực điện từ dùng để liên kết toàn phần các nguyên tử (ví dụ: các lực giữ các electron trong một nguyên tử khí trơ sẽ gắn kết với hạt nhân của chúng).


Lực hạt nhân có tính hấp dẫn cao trong các khoảng tách nucleon điển hình, và lực này tạo sức áp đảo lên lực đẩy của các proton do lực điện từ, do đó, hạt nhân được hình thành. Tuy nhiên, dư lực mạnh có một giới hạn về khoảng cách bởi vì tính phân rã nhanh trong chiều không gian.


Thế Yukawa:

Trong vật lý hạt, nguyên tử và vật lý vật chất ngưng tụ, một \textbf{thế Yukawa} (còn gọi là thế Coulomb được che chắn) là một thế năng được đặt theo tên nhà vật lý người Nhật Hideki Yukawa. Biểu thức của thế năng này có dạng:

    \[V_{\text{Yukawa}}(r) = -g^2 \frac{e^{-\alpha m r}}{r}\]


Trong đó: \(g\) là hằng số cường độ (magnitude scaling constant), \(m\) là khối lượng của hạt trung gian truyền lực, \(r\) là khoảng cách xuyên tâm đến hạt tương tác, \(\alpha\) là hằng số tỉ lệ khác, thường dùng để điều chỉnh độ dài tương tác: \(r \approx \frac{1}{\alpha m}\).


Thế Yukawa giảm đơn điệu theo \(r\) và có giá trị âm, cho thấy lực tương tác là lực hút. Trong hệ SI, đơn vị của thế Yukawa là nghịch đảo của mét. Thế Coulomb trong điện từ học là một trường hợp riêng của thế Yukawa khi \(m = 0\) (tức là photon không có khối lượng), làm cho thừa số \(e^{-\alpha m r} = 1\) ở mọi nơi. Điều này hàm ý rằng photon là hạt truyền lực giữa các hạt tích điện.

Trong tương tác giữa một trường meson và một trường fermion, hằng số \(g\) là hằng số liên kết chuẩn (gauge coupling constant). Trong lực hạt nhân, các fermion là proton và một proton khác hoặc neutron.

Do đó chỉ có những hạt nhân nhỏ hơn một dạng kích thước nhất định mới có thể hoàn toàn mang tính ổn định. Hạt nhân có tính chất hoàn toàn ổn định lớn nhất được biết đến (nghĩa là bền hơn so với phân rã alpha, beta và gamma) là chì-208 chứa tổng số 208 nucleon (126 neutron và 82 proton). Các hạt nhân lớn hơn mức tối đa này không ổn định và có xu hướng tồn tại trong thời gian nhất định với số lượng nucleon lớn hơn. Tuy nhiên, bismuth-209 cũng được tính là bền so với phân rã beta và có chu kỳ bán rã thành phân rã alpha dài nhất so với bất kỳ đồng vị nào đã biết, ước tính dài hơn một tỷ lần so với tuổi của vũ trụ.


Dư lực mạnh có tác dụng trong một phạm vi rất ngắn (thường chỉ một vài femtometre (fm); khoảng một hoặc hai đường kính nucleon) và gây ra lực hấp dẫn giữa bất kỳ cặp nucleon nào. Ví dụ, giữa proton và neutron để tạo thành deuteron [NP], và cũng như giữa các proton và proton, và neutron và neutron.



MÔ HÌNH HẠT NHÂN

Mặc dù mô hình chuẩn của vật lý được cho là miêu tả gần như hoàn hảo về thành phần và trạng thái của hạt nhân. Tuy nhiên, việc tạo ra các dự đoán từ lý thuyết khó hơn nhiều so với các lĩnh vực vật lý hạt khác. Điều này là do hai lý do:


Về nguyên tắc, tính vật lý bên trong hạt nhân nguyên tử có thể bắt nguồn hoàn toàn từ sắc động lực học lượng tử (QCD). Tuy nhiên, trên thực tế, các phương pháp tính toán và toán học hiện tại để giải QCD trong các hệ thống năng lượng thấp như hạt nhân còn rất hạn chế. Điều này là do sự chuyển pha diễn ra giữa vật chất quark có năng lượng cao và vật chất hadronic có năng lượng thấp, khiến các kỹ thuật nhiễu loạn không thể sử dụng được và gây khó khăn cho việc xây dựng mô hình chính xác dựa trên QCD về lực giữa các nucleon. Các phương pháp tiếp cận hiện tại chỉ giới hạn ở các mô hình hiện tượng học như điện thế Argonne v18 hoặc thuyết nhiễu cấu trúc.

Ngay cả khi lực hạt nhân bị hạn chế, cần phải có một lượng đáng kể các phép tính để tính toán chính xác các đặc tính khởi đầu của hạt nhân. Những phát triển trong lý thuyết đa vật thể có thể áp dụng thực hiện được đối với nhiều hạt nhân có khối lượng thấp và tương đối ổn định, nhưng cần có những cải tiến hơn nữa về các phép tính toán và phương pháp tiếp cận toán học trước khi có thể giải quyết được các hạt nhân nặng hoặc hạt nhân không ổn định cao.

Trong lịch sử, các thí nghiệm được so sánh với các mô hình tương đối phổ thông thường có tính không hoàn hảo. Không có mô hình riêng lẻ nào trong số này có thể giải thích hoàn toàn dữ liệu thực nghiệm về cấu trúc hạt nhân.


Bán kính hạt nhân \(R\) được coi là một trong những đại lượng cơ bản mà bất kỳ mô hình nào cũng phải dự đoán. Đối với các hạt nhân ổn định (không phải hạt nhân phát xạ hoặc các hạt nhân không ổn định khác), bán kính hạt nhân tỷ lệ thuận với gốc chiếu lập phương của số khối \(A\) của hạt nhân, và đặc biệt đối với các hạt nhân chứa nhiều nucleon, khi chúng thường có sắp xếp theo dạng hình cầu:


Hạt nhân bền có khối lượng riêng xấp xỉ không đổi và do đó bán kính hạt nhân R có thể được tính gần đúng theo công thức bên phải:


\[R=r_0 A^{\frac{1}{3}}\]

công thức tính

Khi \(A =\) tổng số khối của nguyên tử (số lượng của các proton Z, cộng thêm số lượng của các neutron N) và \(r_0 = 1.25 fm = 1.25 \times 10^{−15} m\). Trong công thức cân bằng này, "hằng số'' \(r_0\) thay đổi 0,2 fm, tùy thuộc vào hạt nhân được đề cập, nhưng mức thay đổi này ít hơn 20% đến từ một hằng số.


Nói cách khác, việc tổng hợp các proton và neutron trong hạt nhân cho kết quả tổng kích thước xấp xỉ bằng cách tổng hợp các hạt hình cầu có tính chất bền và sở hữu kích thước không đổi (có thể hình dung như viên bi) vào một dạng thể túi hình cầu chặt chẽ hoặc gần như hình cầu (một số hạt nhân ổn định không hoàn toàn hình cầu, nhưng đã biết là phỏng cầu).



Mô hình giọt nước

Năng lượng thể tích (volume energy) : Khi một tập hợp các nucleon có cùng kích thước được nén lại với nhau thành thể tích nhỏ nhất, thì bên trong mẫu hình này, một nucleon sẽ có các số nucleon khác tiếp xúc với nó. Vì vậy, năng lượng hạt nhân này tỷ lệ với khối lượng.


Năng lượng bề mặt (surface energy) : Một nucleon ở bề mặt hạt nhân sẽ có tương tác với số lượng nucleon khác ít hơn so với một nucleon có vị trí ở bên trong hạt nhân. Do đó, liên kết năng lượng của nó nhỏ hơn. Thuật ngữ năng lượng bề mặt này được giải ThÍCH là mẫu âm và tỷ lệ với diện tích bề mặt.


Năng lượng Coulomb (Coulomb Energy). Lực tĩnh điện giữa mỗi cặp proton trong hạt nhân góp phần làm giảm năng lượng liên kết của nó.


Năng lượng không tương đồng (còn gọi là Năng lượng Pauli). Một năng lượng được định dạng hình ngôi sao theo nguyên lý loại trừ Pauli. Nếu không phải dạng năng lượng có thể áp dụng công thức Coulomb - khi dạng vật chất hạt nhân ổn định nhất sẽ có cùng số neutron với proton. Thì khi đó, số lượng neutron và proton không bằng nhau, có nghĩa là sẽ có dạng năng lượng kết nối ở kiểu hình lấp đầy các mức năng lượng cao hơn cho một loại hạt, trong khi đó, lại có mức năng lượng thấp hơn cho các loại hạt còn lại.


Năng lượng ghép nối. Năng lượng là một thuật ngữ hiệu chỉnh phát sinh từ thiên hướng xuất hiện của các cặp proton và cặp neutron. Số hạt chẵn bền hơn số hạt lẻ.

Tài liệu tham khảo

  1. Wikipedia tiếng Việt. Hạt nhân nguyên tử. Xem tại đây
  2. Wikipedia tiếng Anh. Nuclear physics. Xem tại đây
  3. Giáo trình Vật lý nguyên tử và hạt nhân – Nguyễn Thị Thùy Quyên. Tải PDF
  4. Giáo trình Cơ sở Vật lý hạt nhân – Đại học Đà Lạt. Tải PDF
  5. Thư viện Vật lý – Chuyên đề Hạt nhân. Xem tại đây
  6. Nuclear Physics A – ScienceDirect. Xem tại đây
  7. Physical Review C – American Physical Society. Xem tại đây
  8. Frontiers in Physics – Nuclear Physics Section. Xem tại đây
  9. Nature – Nuclear Physics. Xem tại đây
  10. ResearchGate – Nuclear Physics Publications. Xem tại đây

PHOTON

 Photon hay quang tử là một loại hạt cơ bản, đồng thời là hạt lượng tử của trường điện từ và ánh sáng cũng như mọi dạng bức xạ điện từ khác. Nó cũng là hạt tải lực của lực điện từ. Các hiệu ứng của lực điện từ có thể dễ dàng quan sát ở thang vi mô lẫn thang vĩ mô do photon không có khối lượng nghỉ và điều này cũng cho phép các tương tác cơ bản xảy ra ở khoảng cách lớn. Cũng như mọi hạt cơ bản khác, photon được miêu tả bởi cơ học lượng tử và biểu hiện lưỡng tính sóng hạt - chúng thể hiện các tính chất giống như của sóng và hạt. Ví dụ: một hạt photon có thể bị khúc xạ bởi một thấu kính hoặc thể hiện sự giao thoa giữa các sóng, nhưng nó cũng biểu hiện như một hạt khi chúng ta thực hiện phép đo định lượng về động lượng của nó.


 

Hình 1: Các hạt photon được phát ra bởi chùm tia laze màu lục lam phía bên ngoài, còn bên trong canxit là chùm tia laze màu cam và huỳnh quang của nó


Tính chất vật lý

 


Biểu đồ Feynman mô tả electron và positron trao đổi photon (còn gọi là tán xạ Bhabha).

Photon là hạt phi khối lượng, không có điện tích và không bị phân rã tự phát trong chân không. Một photon có hai trạng thái phân cực và được miêu tả chính xác bởi ba tham số liên tục: các thành phần vector sóng của nó, xác định lên bước sóng \(\lambda\) và hướng lan truyền của photon. Photon là một boson gauge của trường điện từ và do vậy mọi số lượng tử khác đều 0.

 Các photon được phát ra từ rất nhiều quá trình trong tự nhiên. Ví dụ, khi một hạt tích điện bị gia tốc, nó sẽ phát ra bức xạ synchrotron. Trong quá trình một phân tử, nguyên tử hoặc hạt nhân trở về trạng thái có mức năng lượng thấp hơn, các photon với năng lượng khác nhau sẽ bị phát ra, từ bức xạ hồng ngoại cho đến tia gamma. Photon cũng được phát ra khi một hạt và phản hạt tương ứng hủy lẫn nhau (ví dụ như sự hủy cặp hạt electron và positron).


Công thức tương đối tính 

$$E^2=p^2c^2+m^2c^4$$


Năng lượng và động lượng của photon chỉ phụ thuộc vào tần số \(\nu\) 

$$E=\hbar\omega=h\nu=\dfrac{hc}{\lambda}$$

$$\textbf{p}=\hbar\textbf{k}$$


trong đó \(\textbf{k}\) là vector sóng và \(\hbar=\dfrac{h}{2\pi}\) là hằng số Planck rút gọn.


Lưỡng tính sóng hạt và nguyên lí bất định

Photon, giống như các đối tượng lượng tử, biểu hiện cả hai tính chất giống hạt và giống sóng. Bản chất lưỡng tính sóng-hạt của chúng khó có thể hình dung được. Photon biểu thị rõ ràng tính chất sóng trong các hiệu ứng như nhiễu xạ và giao thoa đối với các bước sóng đủ lớn. Ví dụ, một photon đi qua các khe trong thí nghiệm hai khe và biểu hiện trên màn chắn hiệu ứng giao thoa chỉ khi chúng ta không thực hiện một đo đạc nào liên quan đến photon khi nó đi qua hai khe. Sự giải thích hiện tượng này theo quan điểm của hạt ánh sáng gọi là phân phối xác suất nhưng lại biểu hiện theo phương trình Maxwell. Tuy nhiên, các thí nghiệm cũng xác nhận rằng photon không phải là một xung ngắn của bức xạ điện từ; nó không dải rộng ra khi lan truyền, và cũng không bị chia ra khi đi đến một gương bán mạ. Hơn nữa, photon dường như là một hạt điểm do nó bị hấp thụ hoặc phát xạ một cách toàn bộ bởi một hệ nhỏ tùy ý, những hệ nhỏ hơn bước sóng của nó, như hạt nhân nguyên tử (đường kính \(\approx 10^{-15}m\)) hoặc thậm chí bởi hạt điểm như electron. Mặt khác, photon cũng không là một hạt điểm có quỹ đạo với hình dạng mang tính xác suất bởi trường điện từ, như được Einstein và những người khác nhận thức là vậy; và rằng giả thuyết cũng bác bỏ lại các thí nghiệm tương quan-photon đã trích dẫn ở trên. Theo như sự hiểu biết hiện tại của chúng ta, trường điện từ tự nó cũng sản sinh ra các photon, điều đó được suy ra từ đối xứng gauge định xứ và các định luật của lý thuyết trường lượng tử (xem các phần Lượng tử hóa lần hai và Boson gauge bên dưới).

Một trong những nền tảng của cơ học lượng tử đó là nguyên lý bất định của Heisenberg, nó không cho phép thực hiện được các đo đạc đồng thời về vị trí và động lượng của một hạt trong cùng một hướng. 

Vị trí của electron có thể được xác định trong phạm vi của độ phân giải kính hiển vi, được cho bởi công thức của quang học cổ điển

$$\Delta x\sim \dfrac{\lambda}{\sin\theta}$$

Do photon có thể bị tán xạ theo mọi hướng bên trong góc mở, nên độ bất định động lượng của photon bằng 

\[\Delta p\sim p_{photon}\sin\theta =\dfrac{h}{\lambda}\sin\theta\]


Từ đó tích của chúng là

\[\Delta x \Delta p\sim h\]

đây chính là nguyên lí bất định của Heisenberg. Từ đó, toàn bộ thế giới bị lượng tử hoá; cả vật chất và các trường phải tuân theo những tập hợp các định luật cơ học lượng tử.




Mô hình Bose-Einstein về chất khí photon


Năm 1924, Satyendra Nath Bose suy ra định luật bức xạ vật đen Planck mà không sử dụng tới lý thuyết điện từ, mà bằng cách sửa đổi cách đếm các hạt của không gian pha. Einstein đã chứng minh rằng sự thay đổi này là tương đương nếu giả sử rằng các photon hoàn toàn giống nhau và hàm ý một "tương tác phi cục bộ bí ẩn", và bây giờ các nhà vật lý hiểu như là một sự đòi hỏi cho trạng thái cơ lượng tử đối xứng. Nghiên cứu này dẫn đến khái niệm trạng thái đồng pha và là cho sự phát triển của laser. Trong cùng các bài báo trên, Einstein đã mở rộng phương pháp của Bose cho các hạt vật chất (các boson) và ông đã tiên đoán rằng chúng có thể ngưng tụ lại thành một trạng thái lượng tử có mức năng lượng thấp nhất tại những nhiệt độ đủ thấp; và ngưng tụ Bose–Einstein đã được quan sát bằng thực nghiệm vào năm 1995. Quan điểm hiện đại về các photon là, chúng là các hạt ảo với spin nguyên, các boson (ngược với các fermion với spin bán nguyên). Theo định lý spin-thống kê, mọi boson đều tuân theo thống kê Bose–Einstein (trong khi mọi fermion tuân theo thống kê Fermi-Dirac).


Phát xạ kích thích và tự phát

Hiệu ứng phát xạ kích thích (trong đó các photon "tự nhân bản") do Einstein tiên đoán đầu tiên trong phân tích động học chất khí photon, và dẫn đến sự phát triển của laser. Suy luận của Einstein thúc đẩy việc nghiên cứu tính chất lượng tử của ánh sáng phát triển rộng hơn, mở ra cách giải thích thống kê của cơ học lượng tử.



Photon là boson gauge


Trường điện từ là trường chuẩn (trường gauge), hay là một trường mà có phép đối xứng gauge độc lập tại mỗi vị trí trong không thời gian. Đối với trường điện từ, đối xứng gauge này là nhóm đối xứng Abelian \(U(1)\) của số phức, phản ánh tính thay đổi pha của số phức mà không làm ảnh hưởng đến biến quan sát hay hàm giá trị thực với biến số phức, như năng lượng hay Lagrangian.


Lượng tử của một trường chuẩn Abelian (trường gauge) phải không có khối lượng, hay đối xứng không bị phá vỡ; từ đây, lý thuyết tiên đoán photon là hạt không có khối lượng và không có điện tích cũng như spin nguyên. Dạng đặc biệt của tương tác điện từ khiến cho spin của photon phải là ±1; do đó tính xoắn (helicity) của nó bằng \(\pm \hbar\). Hai thành phần spin này tương ứng với khái niệm cổ điển về sự phân cực tròn trái và phân cực tròn phải của ánh sáng. Tuy vậy, các photon ảo trung gian của điện động lực học lượng tử còn có thêm các trạng thái phân cực phi vật lý.


Trong mô hình chuẩn, photon là một trong bốn boson chuẩn (hay boson gauge) của tương tác điện yếu; ba boson khác ký hiệu là \(W^+, W^−\)  và\(Z^0\) tham gia vào tương tác yếu. Không như photon, những boson chuẩn (gauge) này có khối lượng, như được tiên đoán bởi cơ chế Higgs thông qua phá vỡ nhóm đối xứng chuẩn \(SU(2)\). Tương tác yếu thống nhất photon với các boson gauge \(W\) và \(Z\) nhờ công trình của các nhà vật lý Sheldon Glashow, Abdus Salam và Steven Weinberg, và giải Nobel Vật lý 1979 đã trao cho họ nhờ những đóng góp này. Tư tưởng thống nhất các tương tác cơ bản cũng được các nhà vật lý mở rộng trong lý thuyết thống nhất lớn; thống nhất bốn boson gauge với tám boson gluon của lý thuyết sắc động lực học lượng tử; tuy nhiên, một trong những tiên đoán chìa khóa của lý thuyết này là sự phân rã của proton vẫn chưa được quan sát bằng thực nghiệm.



Photon trong vật chất


Ánh sáng truyền trong môi trường trong suốt với vận tốc nhỏ hơn \(c\), là tốc độ ánh sáng trong chân không. Ngoài ra, ánh sáng cũng bị tán xạ hay hấp thụ. Có những hiện tượng mà sự truyền nhiệt qua môi trường chủ yếu là bức xạ, bao gồm sự phát xạ và hấp thụ photon trong nó. Ví dụ như trong lõi của Mặt Trời. Năng lượng photon phải mất khoảng một triệu năm mới tới được bề mặt. Tuy nhiên, hiện tượng này khác so với sự bức xạ tán xạ đi qua môi trường vật chất, vì nó liên quan đến cân bằng địa phương giữa bức xạ và nhiệt độ. Do vậy, thời gian ở đây là thời gian vận chuyển năng lượng, chứ không phải thời gian hành trình của chính photon. Trong không gian vũ trụ, photon chỉ mất \(8,3\) phút đi từ Mặt Trời đến Trái Đất. Hệ số mà tốc độ ánh sáng giảm đi khi đi trong môi trường vật chất gọi là chiết suất của vật liệu. Trong cơ học sóng cổ điển, sự chậm đi này có thể giải thích bằng sự phân cực điện của vật liệu khi ánh sáng đi vào, vật liệu phân cực phát ra ánh sáng mới, và ánh sáng mới này giao thoa với ánh sáng đi vào tạo nên sự chậm trễ ánh sáng trong vật chất. Trong mô hình hạt ánh sáng, sự chậm đi này được mô tả là do quá trình kết hợp của photon với trạng thái kích thích lượng tử của vật chất (các giả hạt như phonon và exciton) để tạo ra dạng polariton; polariton này có khối lượng hiệu dụng khác không, và do đó nó không thể chuyển động với vận tốc bằng \(c\).


Ngoài ra, photon cũng có thể coi là luôn luôn chuyển động với tốc độ c, ngay cả trong môi trường vật chất, nhưng nó có sự dịch chuyển pha (trễ hay nhanh) phụ thuộc vào tương tác với nguyên tử: điều này làm thay đổi bước sóng và động lượng của nó, nhưng không làm thay đổi tốc độ. Một sóng ánh sáng cấu tạo từ những photon này lan truyền với tốc độ nhỏ hơn tốc độ ánh sáng. Theo quan điểm này các photon là "trần trụi", và bị tán xạ và dịch chuyển pha, trong khi quan điểm ở đoạn trước coi các photon là "che kín" bởi tương tác của chúng với vật chất, và lan truyền không bị tán xạ hay dịch chuyển pha, nhưng với tốc độ nhỏ hơn.


Ánh sáng với tần số khác nhau lan truyền trong vật chất với tốc độ khác nhau; hay gọi là sự tán sắc ánh sáng. Trong một số trường hợp, hiệu ứng này làm chậm tốc độ ánh sáng trong môi trường vật liệu. Sự tương tác của photon với các giả hạt khác có thể được quan sát trực tiếp trong tán xạ Raman và tán xạ Brillouin.


Hạt nhân, nguyên tử và phân tử cũng hấp thụ photon, và chuyển dịch mức năng lượng của chúng. Một ví dụ cổ điển là sự chuyển dịch phân tử của anđêhít retinal C20H28O, phân tử chịu trách nhiệm cho khả năng quan sát của mắt, do nhà hóa sinh và Nobel Y học George Wald cùng đồng nghiệp phát hiện ra năm 1958. Sự hấp thụ gây ra một đồng phân cis-trans, và khi nó kết hợp với những chuyển tiếp khác, sẽ biến đổi thành xung thần kinh. Quá trình hấp thụ photon cũng làm bẻ gãy một số liên kết hóa học, như trong hiện tượng quang ly của clo, được nghiên cứu trong lĩnh vực quang hóa. Tương tự, tia gamma trong một số tình huống có thể làm phân ly hạt nhân nguyên tử trong quá trình gọi là quang phân rã.

Tài liệu tham khảo

  1. Wikipedia tiếng Việt. Photon. Xem tại đây
  2. Wikipedia tiếng Anh. Photon. Xem tại đây
  3. Symmetry Magazine. What is a photon?. Xem tại đây
  4. Department of Energy. DOE Explains...Photons. Xem tại đây
  5. ResearchGate. Photon as a quantum particle. Xem tại đây
  6. ScienceDirect. Photon energy and photon behavior discussions. Xem tại đây
  7. AIP Publishing. Invited Review Article: Single-photon sources and detectors. Xem tại đây
  8. Nature. Quantum double-double-slit experiment with momentum entangled photons. Xem tại đây
  9. Physical Review D. Photon topology. Xem tại đây
  10. Phys.org. New theory reveals the shape of a single photon. Xem tại đây
  11. AIP Publishing. On the quantum-mechanics of a single photon. Xem tại đây
  12. Scientific & Academic Publishing. Photon as a Basic Unit. Xem tại đây
  13. Nature. Photon bound state dynamics from a single artificial atom. Xem tại đây
  14. Colgate Domains. Photon Quantum Mechanics. Xem tại đây
  15. ScienceDirect Topics. Photon - an overview. Xem tại đây
  16. Physics Forums. What is a photon? - Physics Basics Explained. Xem tại đây
  17. Nature. Experimental demonstration of separating the wave‒particle duality. Xem tại đây
  18. Scientific American. What is a photon really?. Xem tại đây
  19. ScienceDirect. On the quantum physics of a single photon. Xem tại đây
  20. Nature. Twisted photons: new quantum perspectives in high dimensions. Xem tại đây

TOPO VÀ DỊCH CHUYỂN PHA TOPO

         Topo là môn học nghiên cứu hình dạng của một không gian về các mặt cơ bản nhất, đó là tính liên thông (connectedness), tính liên t...